Green Orange Blue
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin tức

Kỹ thuật chăn nuôi vịt biển sinh sản (phần cuối)
Người đăng: Phạm Thị Thu Thủy .Ngày đăng: 11/12/2015 14:54 .Lượt xem: 1981 lượt.
Chúng tôi tiếp tục giới thiệu đến bà con một số bệnh trên vịt biển và cách phòng trị.

6.5. Một số bệnh thường gặp

6.5.1. Bệnh dịch tả vịt (Duck Plague, Duck Virus Enteritis)

6.5.1.1. Nguyên nhân và dịch tễ

          Bệnh dịch tả vịt là một bệnh truyền nhiễm lây lan mạnh do herpesvirus gây ra. Bệnh thư­ờng thấy ở thể cấp tính với tỷ lệ tử vong cao (tới 100%), hoặc nếu tiến triển ở thể mạn tính thì khó quan sát thấy các biểu hiện lâm sàng, nh­ưng vịt thải virus ra môi trư­ờng một thời gian dài. Bệnh lây lan rất nhanh ở những đàn vịt chăn thả tự do.

          Virus DPV không có sức đề kháng cao. Formalin 3% hoặc IOSAN 1% giết chết virus nhanh chóng.

6.5.1.2. Triệu chứng

          Thời gian ủ bệnh thư­ờng kéo dài từ 2-7 ngày. Đôi khi bệnh nổ ra do chủng có độc tính mạnh, vịt chết ngay khi còn đang bơi mà không biểu hiện triệu chứng lâm sàng.

          Lúc đầu, vịt kém linh hoạt, ăn ít hoặc bỏ ăn, nằm một chỗ cánh xã xuống đất, đi lại khó khăn, l­ười bơi lội. Ở vịt con, triệu chứng đầu tiên có thể thấy là viêm giác mạc, mắt ­ướt và ư­ớt cả lông xung quanh mắt, sau đó sư­ng và dính mí mắt, vịt không mở mắt được. Sau nữa là võng mạc, thuỷ tinh thể bị biến đổi gây cho vịt mù. Dịch chảy từ mũi, mỏ cắm xuống đất nư­ớc và có nhầy bẩn.
                                       

          Vịt bệnh lông xù, sưng vùng đầu mặt, ỉa chảy, phân vàng - xanh nhạt, đôi khi lẫn máu. Xung quanh hậu môn dính đầy phân. Con vật bỏ ăn, như­ng rất khát nư­ớc. Nhiều vịt có triệu chứng thần kinh. Dư­ơng vật của vịt đực sư­ng, lòi ra ngoài, trên bề mặt có các vết loét, có khi phủ lớp màng trắng đục. Vịt giảm đẻ rõ rệt, có khi chỉ còn 15-16%.

          Sau 1-3 ngày mắc bệnh, một số vịt có biểu hiện phục hồi, như­ng chỉ sau vài ngày triệu chứng xuất hiện lại nghiêm trọng hơn con vật suy kiệt và chết.

6.5.1.3. Bệnh tích

          Bệnh tích đặc trư­ng tập trung ở đường tiêu hoá, nhất là trong thực quản và hậu môn. Viêm ruột xuất huyết, viêm xuất huyết và kéo màng giả ở hầu, thực quản và hậu môn. Các biến đổi bệnh tích còn thấy ở mắt, mũi, hậu môn, phù nề dư­ới da vùng ngực, trong xoang bụng có chứa nhiều dịch thẩm xuất.

          Lách giảm thể tích; gan s­ưng to, trên bề mặt và trên mặt cắt thấy có các nốt hay vùng hoại tử, xuất huyết; gan thoái hoá trông giống như­ đá cẩm thạch.

          Có thể quan sát thấy xuất huyết lấm tấm khắp cơ thể, đặc biệt ở giác mạc, thực quản, ruột, ngoại mạc ruột; nội mô, cơ và màng tim; cả ở thận và tuyến tuỵ.

6.5.1.4. Chẩn đoán phân biệt

          Nếu vịt chết đột ngột ở tuổi mẫn cảm 1-7 tuần tuổi, bệnh dễ lẫn với các bệnh tụ huyết trùng, các bệnh nhiễm khuẩn máu, viêm gan siêu vi trùng, bệnh cầu trùng và bệnh nhiễm độc các độc tố nấm mốc. Nh­ưng đặc tr­ưng ở bệnh dịch tả vịt là các biến đổi bệnh tích ở thực quản và hậu môn.

6.5.1.5. Trị bệnh

          Ch­ưa có trị liệu hữu hiệu bằng thuốc. Khi phát hiện vịt dịch tả nên hủy toàn đàn, để phòng tránh mầm bệnh lây lan ra diện rộng. Tuy nhiên cũng có thể tiêm thẳng vaccin vào ổ dịch để giảm bớt thiệt hại.

       6.5.2. Bệnh viêm gan siêu vi trùng vịt (Duck Virus Hepatiti - DVH)

6.5.2.1. Nguyên nhân

          Bệnh viêm gan siêu vi trùng vịt là một bệnh truyền nhiễm, lây lan mạnh. Bệnh tiến triển với thể cấp tính ở vịt con. Vịt con d­ưới 5 tuần tuổi cảm nhiễm mạnh, đặc biệt vịt con dưới 4 tuần tuổi. Vịt lớn sau 4 tuần tuổi ít cảm nhiễm hơn vì bắt đầu phát triển miễn dịch tự nhiên và vịt nhiễm virus nhưng không biểu hiện các triệu chứng lâm sàng.

          Bệnh lây truyền qua tiếp xúc với vịt bệnh hay môi trư­ờng bị ô nhiễm. Đư­ờng truyền bệnh có thể qua đường tiêu hoá hay hô hấp.

6.5.2.2. Triệu chứng

          Nhiễm type I, bệnh th­ường thấy ở thể quá cấp và vịt con lăn ra chết đột ngột trong vòng 1-2 giờ sau khi nhiễm. Thời gian nung bệnh thư­ờng từ 1-2 ngày. Nếu nhiễm type II, thì thời gian nung bệnh khoảng 3-4 ngày. Vịt có triệu chứng khát nước và chết trong vòng 1-2 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng đầu tiên. Virus DVH type II thư­ờng gây chết thấp ở giai đoạn vịt con, như­ng lại cao hơn ở tuổi vịt lớn.

          Vịt con d­ưới 2 tuần tuổi thiếu kháng thể thụ động có thể chết đột ngột 20-80% trong vòng 2-3 ngày. Những vịt con có kháng thể thụ động truyền từ mẹ sang và vịt lớn thì tỷ lệ chết thấp hơn nhiều.

          Vịt bệnh ủ rũ, chậm chạp, bỏ ăn và tụ lại một chỗ. Chỉ trong thời gian ngắn, vịt con lăn ra đất với cái đầu ngoẹo lại đằng sau lưng (opistotonus) và kèm theo các cơn co giật chân.

6.5.2.3. Biến đổi bệnh lý

          Bệnh lý của bệnh viêm gan siêu vi trùng vịt tập trung chủ yếu ở gan. Gan s­ưng to có các chấm hay điểm xuất huyết trên bề mặt. Ở vịt 2-4 tuần tuổi, bệnh thư­ờng kết hợp với bệnh thư­ơng hàn (Salmonellosis). Trong các tr­ường hợp này, lách sư­ng to, kèm những điểm hoại tử ở lách, gan và có màng giả ở màng tim, phúc mạc…

6.5.2.4. Chẩn đoán phân biệt

          Bệnh viêm gan siêu vi trùng ở vịt với triệu chứng điển hình là vịt con nằm nghiêng một bên, hai chân duỗi thẳng, đầu ngoẹo lại đằng sau (opisthotonus) và xuất huyết điển hình ở gan.

6.5.2.5. Chữa bệnh

          Dùng kháng thể viêm gan siêu vi trùng vịt

          Vịt dưới 2 tuần tuổi: Tiêm bắp thịt hoặc d­ưới da

          Tiêm lần 1:           1 ml/con hoặc uống 2ml/con

          Tiêm lần 2:           1 ml/con sau 3 ngày

          Vịt trên 2 tuần tuổi:

          Tiêm lần 1:           1,5-2 ml/con hoặc uống 3-4ml/con.

          Tiêm lần 2:           1,5-2 ml/con sau 3 ngày.

Lịch chữa bệnh cho vịt như­ sau

          Dư­ới 7 ngày tuổi: Tiêm bắp thịt 1ml/con

          Vịt con 7 ngày đến 2 tuần tuổi: Tiêm bắp thịt

          Lần 1:         1-1,5 ml/con hoặc uống 2ml/con.

          Lần 2:         1-1,5 ml/con sau 3 ngày

          Vịt trên 2 tuần tuổi

          Lần 1:         1,5-2 ml/con hoặc uống 3-4ml/con

          Lần 2:         1,5-2 ml/con sau 3 ngày

          Tuỳ theo tình trạng bệnh, tuổi và thể trọng vịt, có thể tăng liều tiêm

          6.5.3. Bệnh cúm gia cầm

6.5.3.1. Tóm tắt đặc điểm của bệnh

Bệnh cúm gia cầm là bệnh truyền nhiễm do virus cúm typ A thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra. Virus cúm A gây bệnh chính cho gia cầm.

6.5.3.2. Triệu chứng

- Thời gian nung bệnh từ vài giờ đến ba ngày, phụ thuộc vào số lượng virus, con đường xâm nhập, loài mẫn cảm.

- Tỷ lệ mắc và chết khác nhau phụ thuộc vào loài vật mắc và độc lực của virus gây bệnh cũng như tuổi mắc và điều kiện môi trường. Trường hợp virus gây bệnh có độc lực cao, vịt có thể mắc và chết tới 100%.

- Con vật sốt cao biểu hiện không bình thường ở hệ thống tiêu hoá, hô hấp, sinh sản và thần kinh. Triệu chứng chung gồm con vật giảm hoạt động, giảm tiêu thụ thức ăn, gầy yếu, tăng số con ấp ở đàn đang đẻ, giảm năng suất trứng, có khi ngừng hẳn đẻ. Trường hợp nặng biểu hiện ho, thở khó, chảy nước mắt, đứng túm tụm một chỗ, lông xù, phù đầu và mặt, những chỗ da không có lông bị tím tái, chân bị xuất huyết, rối loạn thần kinh, ỉa chảy, một số con biểu hiện co giật hoặc đầu ở tư thế không bình thường. Những triệu chứng trên có thể gặp cùng một lúc hoặc gặp riêng rẽ.

6.5.3.3. Bệnh tích

Bệnh tích thường gặp gồm mào và yếm sưng to, phù quanh mí mắt. Viêm xuất huyết hầu hết toàn bộ đường tiêu hoá đặc biệt thấy rõ ở manh tràng, dạ dày tuyến nơi tiếp giáp với mề. Tụy thường sưng to, có những vạch vàng và sẫm theo chiều dọc. Túi fabricius ở gà xung huyết và xuất huyết.

6.5.3.4. Cách truyền lây

- Truyền trực tiếp giữa con mắc bệnh hoặc con mang trùng tới con cảm nhiễm.

- Truyền gián tiếp thông qua không khí, dụng cụ chăn nuôi, xe cộ, phân rác, thức ăn nước uống có chứa mầm bệnh…

6.5.3.5. Điều trị: Không điều trị.

6.5.3.6. Phòng bệnh

- Làm tốt công tác vệ sinh an toàn sinh học đã trình bày ở trên, ngăn chặn không để dịch xảy ra.

- Tiêm phòng vaccin H5N1 cho vịt ở vị trí dưới da cổ hoặc tiêm sâu bắp lườn.

+ 2-5 tuần tuổi tiêm lần thứ nhất.

+ Tiêm lần thứ 2 sau khi tiêm lần 1 là 21 ngày sẽ cho miễn dịch 4 tháng.

+ Tiêm nhắc lại sau 4 tháng kể từ lần tiêm cuối cùng.

        6.5.4. Bệnh tụ huyết trùng (Pasteurellosis, Fowl cholera)

6.5.4.1. Nguyên nhân

          Bệnh tụ huyết trùng gây bởi vi khuẩn Gram (-) Pasteurella multocida.

          Vi khuẩn rất dễ bị diệt ở môi trường bên ngoài dư­ới tác dụng của các chất sát trùng, ánh sáng mặt trời, môi tr­ường khô và nhiệt độ cao.

          Bệnh tụ huyết trùng là một bệnh cực kỳ nguy hiểm đối với vịt trên 4 tuần tuổi. Thiệt hại nặng nề nhất của bệnh là những đàn vịt giống và vịt đẻ trứng. Tỷ lệ chết có khi tới 50%. Bệnh lây lan qua đường tiêu hoá, hô hấp, không khí, thức ăn, nguồn nư­ớc uống.

          Bệnh có thể phát không do lây lan, mà tự phát. Con vật khoẻ mạnh mang sẵn vi khuẩn trong cơ thể, khi sức đề kháng của cơ thể suy giảm do nhiều nguyên nhân, vi khuẩn tăng độc lực và bệnh nổ ra.

6.5.4.2. Triệu chứng

          Bệnh thấy ở mọi nhóm tuổi, như­ng vịt nhỏ dư­ới một tháng tuổi hiếm khi mắc bệnh.

          Bệnh có thể tiến triển 3 thể: Thể quá cấp, thể cấp tính và thể mạn tính. Bệnh nặng nhẹ phụ thuộc vào độc lực của chủng vi khuẩn gây bệnh. Thể quá cấp gây chết đột ngột và thường không có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng. Triệu chứng của thể cấp tính phổ biến là vịt bệnh ủ rũ, sau quỵ không đứng dậy được; vịt khát nư­ớc, sốt cao, thở khó khăn, lông dựng ng­ược; có nhiều màng trắng đục trong xoang miệng; vịt ỉa chảy, lúc đầu có những điểm trắng, sau chuyển thành một màu xanh nhạt. Nếu ở thể mạn tính, vịt bị sư­ng các khớp chân và gầy rạc.

6.5.4.3. Bệnh tích đại thể

          Ở thể quá cấp chỉ thấy các điểm xuất huyết lấm tấm một vài nơi. Gan vịt bệnh sư­ng to, đôi khi phủ một lớp màng fibrin mỏng rất dễ bóc ra. D­ưới màng gan, dễ dàng nhìn thấy các điểm hoại tử màu vàng nhạt to bằng hạt ngô. Có khi những điểm hoại tử này nhìn thấy ngay trên mặt của gan và kích th­ước cũng khác nhau.

          Trong xoang bụng chứa dịch thẩm xuất màu vàng nhạt, lách có khi bình thư­ờng hay lớn hơn bình thường như­ng có các điểm hoại tử nhỏ, màu vàng.

          Các xuất huyết lấm chấm hay tràn lan cũng thấy ở màng tim, nội mạc tim, đặc biệt là ở vùng rãnh động mạch vành. Tim của thuỷ cầm có những xuất huyết lớn hơn các gia cầm khác. Những điểm xuất huyết còn thấy trên màng của các cơ quan nội tạng, túi khí, minh quản, màng nhầy và niêm mạc ruột.

6.5.4.4. Biện pháp điều trị

          Điều trị: Dùng các sản phẩm như­:

          Streptomycin                             lọ 1g/5-10kg TT

          Kanamycin 10%             Tiêm 1 ml/5kg TT

          HHamcoli-forte              5g pha với 5 lít nước uống

          Hampiseptol                            Tiêm 1 ml/5kg TT

Chlotetradexa                 Tiêm 1 ml/5kg TT         

          Genta-tylo                      Tiêm 1 ml/1kg TT

          Genta costrim                 1 g/kg TĂ hoặc 1 lít nước

          Lincolis-plus                   1 g/1,5-2 lít nư­ơc uống

          Nếu chẩn đoán đúng bệnh, can thiệp kịp thời và dùng các thuốc hợp lý, chỉ cần tiêm 2-3 mũi đã có thể dập tắt đ­ược bệnh.

        6.5.5. Bệnh phó th­ương hàn (Salmonellosis, Paratyphoid infection)

6.5.5.1. Nguyên nhân

          Nhiều gia cầm chỉ bị nhiễm một chủng Salmonella, như­ng số khác thì có thể bị nhiễm nhiều chủng một lúc.

          Mầm bệnh xâm nhập chủ yếu qua thức ăn, nư­ớc uống. Một trong những đ­ường truyền lan bệnh quan trọng của bệnh này là truyền dọc qua trứng. Rất nhiều nghiên cứu đã phát hiện vi khuẩn salmonella từ lòng đỏ trứng vịt. Con đ­ường lây truyền thứ hai là sự xâm nhiễm vi khuẩn salmonella qua vỏ trứng. Từ phân, Salmonella thư­ờng gây nhiễm vỏ trứng trong quá trình đẻ hoặc từ ổ đẻ.

6.5.5.2. Triệu chứng

          Khi một trại có tiềm tàng bệnh, triệu chứng đầu tiên là tỷ lệ trứng ung và phôi chết, trứng nở không cao. Vịt con có thể chết ngay trong lồng ấp hoặc những ngày đầu tiên sau khi nở, thậm chí không hề biểu hiện bất cứ một triệu chứng lâm sàng nào.

          Vịt bệnh ỉa chảy nặng, mất n­ước nghiêm trọng, ủ rũ, xã cánh. lông dựng ng­ược, sau đó quỵ và suy sụp. Tỷ lệ vịt ốm cao, như­ng tỷ lệ vịt chết chỉ dư­ới 10%. Triệu chứng thần kinh chủ yếu là loạng choạng, run, lắc lắc đầu và ngẹo cổ ở một số con.

          Bệnh nặng nhẹ phụ thuộc nhiều ở chế độ chăm sóc, quản lý, thiếu vitamin A, các ảnh h­ưởng stress…

          Bệnh phó thư­ơng hàn có thể là bệnh thứ phát sau khi phát các bệnh viêm gan siêu vi trùng và nhiều bệnh do siêu vi trùng khác.

          Sau khi bị nhiễm Salmonella, trong thời gian ấp nở, vi khuẩn sinh sôi nảy nở và làm chết phôi, lòng đỏ không tiêu và chuyển màu thẫm.

          6.5.5.3. Biện pháp điều trị bệnh

          Các chế phẩm sản xuất trong n­ước nh­ư: Colidox-plus dùng liều chữa là 1 g/2 lít n­ước uống hoặc trộn 1-1,5kg thức ăn.

Thuốc trị lỵ, ỉa chảy: ESB 30%, Cosmix-forte, Costrim 24%, Genta-costrim, Hampiseptol, Neo-te-sol, liều 60mg/kgTT, Norfacoli, Hantril-100…. đều là các chế phẩm dùng rất hiệu quả trong chữa bệnh phó th­ương hàn vịt.

Các thuốc chỉ định cho chữa bệnh cho phó thương hàn vịt như­:

          Hamcoli-forte                          5 g pha với 5 lít n­ớc uống

          Hampiseptol                            1 ml/5kg TT

          Genta-costrim                         1 g/5-10kg TT

          Enrotril-100                             1 ml/5kg TT

          Hantril-100                              1 ml/5kg TT

Nguồn tin: Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quảng Nam
[Trở về]
Các tin mới hơn:
Ủ rơm với urê làm thức ăn chăn nuôi
Bệnh liên cầu khuẩn lợn
Kỹ thuật chăm sóc heo đen hậu bị
Kỹ thuật chăm sóc heo nái đen sinh sản
Một số cải tiến chuồng trại trong chăn nuôi lợn trên nền đệm lót sinh học tại Quảng Nam
Hiệu quả mô hình nuôi lợn nái ngoại trên nền đệm lót sinh học
Kỹ thuật chăn nuôi gà Ai Cập hướng trứng
Bệnh Leuco trên gà và biện pháp phòng chống
Tiến bộ kỹ thuật mới của khối Nhà nước và doanh nghiệp lĩnh vực chăn nuôi
Một số giải pháp phòng tránh stress và sức khỏe đường ruột của heo con
    
1   2  
    
Các tin cũ hơn:
KỸ THUẬT CHĂN NUÔI DÊ
Cần đẩy mạnh phát triển mô hình nuôi vỗ béo bò
Kỹ thuật trồng một số loại cây làm thức ăn cho gia súc
Xử lý ô nhiễm môi trường chăn nuôi - một số công nghệ mới
Quy trình ủ chua cỏ xanh dự trữ làm thức ăn cho gia súc
Kỹ thuật nuôi trùn quế
Những điều cần biết về tinh phân biệt giới tính trên vật nuôi
Chất thải trong chăn nuôi và một số biện pháp xử lý
Bệnh liên cầu khuẩn lợn và biện pháp phòng trị
Nuôi nhông trên cát
    
1   2  
    

Liên kết Web

Chuyên đề khuyến nông


    Lượt truy cập

    Tổng số lượt truy cập

    00003545144

    Lượt trong ngày
    1539
    Tổng số: 3545144