Khuyến nông Quảng Nam đồng hành và phát triển cùng bà con nông dân!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin tức

Kỹ thuật nuôi Cua thương phẩm từ cua bột
Người đăng: Nguyễn Thị Đồng .Ngày đăng: 03/07/2015 10:06 .Lượt xem: 1701 lượt.
Cua bột 2, 3 (cua C2- C3) có thể thả trực tiếp xuống ao nuôi cua thịt hoặc ương cua bột trong ao riêng có diện tích nhỏ hoặc chắn lưới một phần diện tích ao nuôi để ương.

QUY TRÌNH KỸ THUẬT NUÔI CUA THƯƠNG PHẨM

TỪ CUA BỘT TRONG AO

 


 Ao nuôi Cua bột  lên cua thương phẩm 

Giai đoạn Cua bột đã có hình thái giống cua trưởng thành. Cua thích sống ở đáy (chất đáy cát pha bùn) hoặc bám vào các thực vật thủy sinh, cua bột có thể sống được ở nước độ mặn 7- 15 ‰ và thấp hơn, ăn các động vật nhỏ và thức ăn chế biến, rong, tảo.
    Cua bột 2, 3 (cua C2- C3) có thể thả trực tiếp xuống ao nuôi cua thịt nếu như đáy ao nuôi được cải tạo triệt để, có lưới chắn xung quanh bờ, nước nuôi được xử lý tốt và phải được loại bỏ cua, cá tạp… trước khi lấy vào ao nuôi.

Tuy nhiên, phần lớn ở các ao nuôi cua khó có thể làm được điều đó nhất là việc nuôi cua trong ao ở vùng triều có diện tích lớn. Vì vậy, cua thả nuôi phải đạt kích cỡ lớn hơn để bảo đảm tỉ lệ sống cao hơn thì phải ương nuôi cua bột lên cua giống riêng.

Tốt nhất là ương nuôi cua trong ao đất. Có thể ương cua bột trong ao riêng có diện tích nhỏ hoặc chắn lưới một phần diện tích ao nuôi để ương.



Cua bột C2- C3

I. Ương cua bột lên cua giống

1.1. Chuẩn bị ao ương:

Ao ương cua bột lên cua giống có thể bên cạnh ao nuôi cua thịt. Ao ương có diện tích 200- 500 m­2, sâu 0,8- 1,2m. Bờ ao đắp chắc chắn, cao hơn mực nước triều cao nhất 0,5 m.

- Ao đất dùng để ương cua bột tốt nhất nằm trong khu vực có độ mặn phù hợp thấp như vùng cửa sông, vùng đầm phá... phù hợp đặc tính sinh học của chúng. Ao phải có cống cấp thoát nước và chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, thuận tiện cho việc thay nước, kích thích sự lột xác của chúng.

- Cải tạo ao: Ao phải được tháo cạn nước, vét bùn, diệt hết cá tạp, phơi đáy ao từ 5 - 7 ngày, san phẳng toàn bộ đáy ao, tu sửa lại bờ ao, bón vôi với liều lượng từ 7- 10kg/100m2. Dùng lưới có kích thước mắt lưới 2a = 2cm chắn xung quanh bờ ao, lưới chắn phải có góc nghiêng vào bên trong ao so với bờ ao là 450 nhằm để bảo vệ cua bò ra.

- Thả chà bằng cành cây khô, lá dừa hoặc giăng lưới cước khắp ao nuôi làm nơi trú ẩn cho cua khi lột xác, tránh ăn lẫn nhau.

- Cấp nước: Nước cấp vào ao phải qua lưới lọc, đạt 0,6- 0,8 m trở lên, nước có độ mặn từ 12- 200/00, pH = 7,5- 8,5, bón phân, gây màu, các yếu tố khác đảm bảo thì mới tiến hành thả cua bột. Ao được chuẩn bị 7- 10 ngày trước khi cho cua bột xuống ương.

1.2. Thả giống:

- Cần phải thông báo cho trại sản xuất giống biết độ mặn ao ương cua để trại chủ động cân bằng độ mặn với ao ương. Độ mặn của ao ương không được sai lệch với trại giống quá 5‰ .

- Thả cua vào buổi sáng hoặc chiều lúc trời mát. Tránh những ngày có thời tiết xấu.

- Mật độ ương nuôi: 200- 300 con/m2.

Cua bột từ trại giống được vận chuyển đến, có thể bằng túi nhựa nylon có oxy hoặc bằng khay ẩm, tùy khoảng cách giữa trại giống đến ao ương. Cua bột đem rải đều quanh ao theo số lượng đã tính trước. Khi thả cua bột nên thao tác thật nhẹ nhàng để tránh làm tổn thương cua.

1.3. Cho ăn và chăm sóc:

* Thức ăn:

Trong ao ương cua giống có thể gây màu nước cho phù du động vật phát triển làm thức ăn tự nhiên cho cua, nhưng chủ yếu phải cho cua ăn thức ăn chế biến từ các loại bột, thịt cá, tôm, cua, còng, nhuyển thể xay nhỏ, hấp cho ăn.

- Chuẩn bị thức ăn cho 3- 5 ngày đầu: nguyên liệu gồm (trứng gà 30%; thịt cá, tôm, cua bóc vỏ: 50%; bột 15%; nhuyển thể: mực, hàu 5%; vitamin). Tất cả trộn đều và xay mịn sau đó hấp cách thuỷ, để nguội dùng mắt lưới nhỏ xa thức ăn tạo thành viên cho cua ăn.

Lượng thức ăn cho cua ăn từ 1,0 - 1,5 kg/10.000 cua bột/ngày.

- Sau ngày thứ 5 trở đi cho cua ăn thịt cá tạp, nhuyển thể, giáp xác hấp cách thuỷ rồi băm nhỏ cho cua ăn.

Lượng thức ăn từ 10-15% trọng lượng cua thả. Số lượng thức ăn tăng dần theo sinh trưởng, tăng trọng của cua.

Thức ăn đem rải ven ao. Chia làm 2 lần: sáng sớm và chiều tối.

* Quản lý nước ao ương:

Sau 5 ngày kể từ ngày thả giống tiến hành thay 1/3 lượng nước trong ao để kích thích cua lột xác phát triển.

Từ ngày thứ 10 trở đi: 5 ngày thay nước 1 lần, mỗi lần thay 1/2 lượng nước hoặc thay nước theo thủy triều.

Việc thay nước này sẽ kích thích sự lột xác diễn ra dễ dàng hơn, cường độ bắt mồi tốt hơn và khả năng tăng trưởng nhanh.

Hàng ngày kiểm tra pH, oxy, nhiệt độ, độ mặn, bờ ao, chống mội, xói lở, hỏng rào, bệnh và các dịch hại vào trong ao. Khoảng 10 ngày cân, đo, đếm, xác định tỉ lệ sống, khả năng tăng trưởng của cua một lần.

1.4. Thu hoạch:

- Thu cua bằng vó: Cho thức ăn vào vó, nhử cua vào vó sau đó kéo lên chọn những con đạt tiêu chuẩn để thả nuôi cua thương phẩm.

- Thu toàn bộ: Tháo cạn nước để bắt toàn bộ cua giống.

Sau từ 25- 30 ngày cua đạt chiều rộng mai 2,5- 3,0cm, trọng lượng khoảng 5gam/con. Tỷ lệ sống có thể đạt 30- 40%. Cỡ cua này có thể chuyển sang ao lớn để nuôi cua thịt. Nếu cần cua giống cỡ lớn hơn thì phải san cua ra ao lớn hơn và nuôi mật độ thấp hơn.

Vận chuyển cua ương bằng phương pháp vận chuyển hở đến ao nuôi thương phẩm.


Cua giống sau 1 tháng ương nuôi (kích cỡ 50 gam/con)

II. Nuôi cua con thành cua thương phẩm

             2.1. Điều kiện ao nuôi:

Ao nuôi cua ở vùng bãi triều, gần sông, nơi ít sóng gió, có nguồn nước

cấp và thoát chủ động, nguồn nước sạch, giàu chất dinh dưỡng, không bị ô nhiễm do chất thải công nghiệp, nông nghiệp. Ao nên có diện tích từ 1.000- 5.000m2, độ sâu 0,8- 1,2 m, bờ ao rộng và được đầm kỹ để hạn chế cua đào hang đi sang ao khác, bờ ao cao hơn mức triều cường ít nhất 0,5m.

 Chất đáy ao tốt nhất là loại đất thịt pha sét hay cát, lớp bùn đáy không quá 20cm, ao không nằm trong vùng đất và nước bị nhiễm phèn, pH nước từ 7,5- 8,5; độ mặn từ 3 - 250/00

Xung quanh bờ phải rào kỹ bằng đăng tre, tấm nhựa, lưới cước...và đặt hơi nghiêng vào ao sao cho cua không thoát ra được.

Ao có cống cấp và thoát để đảm bảo cấp thoát nước cho ao, trước cống nên có 2 lớp đăng hay lưới chắn cẩn thận, lớp ngoài nên có hình chữ V.

Trong ao nên trồng cây, làm chà bằng các loại cây không có vị đắng hoặc bằng lá dừa nước để tạo nơi trú ẩn cho cua. Ao rộng nên đắp những ụ đất nổi khu vực giữa ao để cua đào hang trốn khi lột xác hay khi môi trường nước không tốt, như vậy sẽ hạn chế cua bò lên hoặc đào hang trên bờ.

2.2. Cải tạo ao:

Cải tạo ao nuôi cua thương phẩm được tiến hành như cải tạo ao ương cua bột lên cua giống hoặc cải tạo ao nuôi tôm.

Trong cải tạo ao nên sử dụng các loại vôi có hoạt tính mạnh như vôi nung CaO, vôi tôi Ca(OH)2, lượng vôi bón tùy theo pH đất, thường bón từ 200- 300 kg/lần (700- 1.000kg/ha. Sau đó, tiếp tục phơi đáy ao 3- 5 ngày cho diệt hết mầm bệnh.

Đối với các ao không tháo cạn được, ao bị nhiễm phèn thì không nên tháo cạn nước và phơi khô, vì với ao bị nhiễm phèn nếu phơi thì phèn đáy ao sẽ xì trên mặt ao. Khi tháo nước trong ao nên để lại lượng nước từ 10- 15 cm, sau đó tiến hành dùng máy bơm áp lực mạnh để xịt rửa đáy ao, lượng bùn sau khi xịt rửa cho toàn bộ vào ao chứa, xử lý trước khi cho ra ngoài. Lập lại quá trình trên từ 2- 3 lần, cho đến khi nào nền ao tương đối sạch thì thôi. Sau đó tiến hành bón vôi như trên.

          2.3. Thả giống:

Chọn cua giống khoẻ mạnh, đồng đều kích cỡ, màu sắc tươi sáng, không bị gãy các phần phụ. Cua được vận chuyển bằng thùng xốp có để các bao bố, bao cước hay rong, cỏ để giữ độ ẩm cho cua. Khi vận chuyển tránh nước mưa và ánh nắng trực tiếp vào cua giống.

Trước khi thả cua nên kiểm tra các yếu tố môi trường ao nuôi để điều chỉnh trong khoảng thích hợp. Thả cua vào sáng sớm hoặc chiều mát, thả đều khắp bờ ao, nên thả gần những bó chà để cua vào trú ẩn.

Mật độ thả: từ 0,5 - 1 con/m2

 Mùa vụ nuôi cua con thành cua thịt có thể quanh năm nhưng phổ biến nhất vào khoảng tháng 2- 5 dương lịch. Lúc này nguồn giống phong phú điều kiện môi trường nước tương đối thuận lợi cho nuôi cua. Những tháng mùa mưa cũng có thể nuôi cua nhưng sự biến động lớn về nhiệt độ, độ mặn, độ phèn,... có thể ảnh hưởng xấu đến nuôi cua.

2.4. Thức ăn, chăm sóc, quản lý

Cua ăn tạp, thức ăn là động vật, có thể sử dụng các loài tôm cá rẻ tiền, các loài nhuyễn thể, các loại bột ngũ cốc chế biến với cá cho ăn.

Lượng thức ăn hàng ngày khoảng 5- 80/0 trọng lượng cua tuỳ thuộc chất lượng của thức ăn. Mỗi ngày nên cho cua ăn 2 lần: sáng sớm từ 5 - 6 giờ và chiều từ 17 - 18 giờ.

Thức ăn được rải đều ở chỗ nước nông ven bờ và ở những bãi nông, có thể làm sàn cho cua ăn để dễ kiểm tra lượng thức ăn của cua nhằm điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, tránh thừa thức ăn thì sẽ lãng phí và làm ô nhiễm nguồn nước, còn thiếu thì ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của cua. Cua là loài hung dữ và háo ăn không nên khi bị đói cua có thể ăn thịt lẫn nhau.

Thường xuyên quản lý, chăm sóc theo dõi nước ao và mọi hoạt động của cua để xử lý kịp thời. Nếu ao chủ động được nước thì cho nước ra vào thường xuyên, còn không thì hàng ngày thay khoảng 20- 25% lượng nước trong ao để giữ môi trường nước trong sạch.

Trong quá trình nuôi, sử dụng các loại vôi nông nghiệp, đá vôi CaCO3 để bón cho ao nhằm tăng cường hệ đệm, ổn định độ kiềm, pH nước ao. Liều lượng được sử dụng 200- 300 kg/ha/lần, định kỳ 10 ngày bón một lần và bón sau khi thay nước.

Kiểm tra bờ, đăng chắn, những chỗ hư hỏng phải được sửa lại, không để cua thoát ra ngoài.

Định kỳ kiểm tra sinh trưởng của cua 1 tháng cân đo trọng lượng, kích thước một lần, kiểm tra mật độ. Trên cơ sở dự doán sự tăng khối lượng để tăng số lượng thức ăn tương ứng cho cua nuôi trong ao.

Cua trưởng thành thường bị bọ cua ký sinh trong bụng cua hút hết dịch làm cho cua cái không lên gạch, cua đực gầy yếu. Vì vậy trong quá trình nuôi thường xuyên kiểm tra tình trạng sức khoẻ của cua và có biện pháp phòng, trị.

2.5. Thu hoạch:

Sau thời gian nuôi từ 3- 4 tháng tuỳ theo cỡ giống thả, cua đạt trọng lượng từ 300- 350g/con thì thu hoạch.

Thường thu cua bằng cách dùng lồng lưới thu tỉa con lớn, chắc đem bán hoặc nếu cua chắc đạt đồng đều thì tháo cạn để bắt toàn bộ.

Những cua còn nhỏ, hoặc cua ốp (vừa lột xác không lâu) thì để lại nuôi tiếp.

Nguồn tin: Trung tâm Khuyến nông- Khuyến ngư
[Trở về]
Các tin mới hơn:
Kỹ thuật trồng rong nho
Kỹ thuật ương cá bột lên cá giống
Kỹ thuật nuôi ếch Thái Lan
Hướng dẫn kỹ thuật nuôi lươn không bùn
Kỹ thuật nuôi trồng rong câu chỉ vàng
Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh
Các mối nguy gây mất an toàn thực phẩm trong sản phẩm thủy sản và cách phòng tránh
Kỹ thuật nuôi cá lồng bè trên sông và hồ chứa
Nuôi cá kết hợp với trồng lúa
Kỹ thuật nuôi ốc hương thương phẩm
    
1   2   3   4   5   6  
    
Các tin cũ hơn:
Phê duyệt Đề án Nâng cao giá trị gia tăng hàng nông lâm thủy sản
Qũy hỗ trợ ngư dân Quảng Nam: Cùng ngư dân vươn khơi, bám biển
Áp dụng VietGAP vào nuôi tôm thẻ chân trắng
Triển vọng ương nuôi cua bột lên cua giống
Kỹ thuật nuôi cá chẽm
Kỹ thuật nuôi Lươn thương phẩm
Kỹ thuật nuôi cá Thát lát cườm
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở nuôi cá tra trong ao
Kỹ thuật nuôi cá chình
Thông báo Nuôi tôm nước lợ 2015
    
1   2  
    

Liên kết Website