Khuyến nông Quảng Nam đồng hành và phát triển cùng bà con nông dân!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin tức

KỸ THUẬT CHĂN NGAN SINH SẢN
Người đăng: Phan Trần Như Nhiệm .Ngày đăng: 09/03/2021 10:26 .Lượt xem: 83 lượt.
Ngan địa phương là vật nuôi phổ biến, dễ nuôi, mức đầu tư thấp, rũi ro ít, phù hợp với hầu hết các vùng của nông thôn. Để giúp bà con chăn nuôi ngan sinh sản đạt hiệu quả kinh tế cao, chúng tôi xin giới thiệu kỹ thuật chăn nuôi ngan địa phương sinh sản , cụ thể như sau::

1. Cách làm chuồng nuôi ngan

Đối với phương thức chăn nuôi cổ truyền trong nông hộ mang tính chất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp cần phải nuôi nhốt lại và làm chuồng nuôi độc lập với nhà ở.

Vị trí gia trại, trang trại phải cao ráo, sạch sẽ và thoáng mát, điều kiện chuồng trại phải phù hợp với quy mô chăn nuôi. Xây dựng chuồng trại phải có đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho công tác vệ sinh phòng dịch và an toàn sinh học. Riêng nuôi nhốt nên có sân chơi cho ngan (chuồng thông thoáng tự nhiên) thì sẽ thuận lợi cho công tác vệ sinh thường xuyên và xử lý môi trường đồng thời chi phí cũng giảm nhiều so với nuôi chuồng kín. Nếu có sân chơi thì diện tích sân chơi tối thiểu phải gấp đôi diện tích chuồng nuôi là phù hợp.

Căn cứ vào số lượng định nuôi, phương thức nuôi, loại ngan để có nhu cầu chuồng trại cho thích hợp.

Chuồng trại cho ngan nên làm đơn giản không cần kiên cố nhưng phải đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, chuồng không bị mưa hắt, nắng không chiếu vào ổ đẻ. Có thể làm bằng lưới, tre,  nứa, lá hoặc làm chuồng sàn trên ao hồ, trên bè (phải quây gọn).

Chuồng và sân chơi cho ngan

Diện tích chuồng nuôi căn cứ vào mật độ để xác định nhu cầu làm chuồng nuôi cho phù hợp: Nhu cầu mật độ chuồng nuôi như sau:

Tuổi

Nuôi không cần nước bơi lội (con/m2)

Nuôi có nước bơi lội (con/m2)

Nhốt trong chuồng

Chuồng có sân chơi

Chuồng + Vườn cây

Chuồng + nhốt trên ao, cửa sông, biển

Chuồng + nhốt trên ruộng lúa

Tuần đầu

30 – 35

30 - 35

30 - 35

30 - 35

30 - 35

2 - 4 tuần

10 – 15

15 - 20

15 - 20

15 - 20

15 - 20

5 - 8 tuần

5 – 6

6 - 8

8 - 10

8 - 10

8 - 10

Hậu bị

3

4 - 5

5 - 6

5 - 6

5 - 6

Sinh sản

3

4

4

4

4

Nếu mật độ cao quá làm giảm năng suất và tiểu khí hậu chuồng nuôi xấu đi. Nhưng nếu mật độ thấp sẽ không kinh tế khi sử dụng chuồng trại.

Độn chuồng bằng trấu hoặc phôi bào hoặc rơm rạ băm nhỏ nhưng không bị hôi mốc. Thường xuyên bổ sung thêm độn chuồng làm cho độn chuồng khô, chuồng ngan ngan sinh sản độn chuồng dày 10 - 15cm.

Các ô chuồng không nên làm quá rộng, ngăn thành ô tối đa 200 con ngan.

* Sân chơi: Diện tích sân chơi yêu cầu gấp 2 - 3 lần diện tích trong chuồng, nuôi khô hoàn toàn không có diện tích chăn thả thì sân chơi gấp 3 lần diện tích trong chuồng. Sân chơi dốc ra ngoài để thoát nước, dọc sân chơi nên có cây bóng mát để chắn gió và che nắng. Nếu ngan nuôi trên khô thì song song với chuồng là máng uống nước có tấm ngăn tránh ngan vào bơi. Nếu sử dụng mương bơi phải thường xuyên thay nước.

* Máng ăn, máng uống: Chuẩn bị đầy đủ máng ăn máng uống cho ngan:

Giai đoạn ngan con: Dùng máng tôn hoặc mẹt tre hoặc tấm nilông cho ngan ngan ăn. Có thể sử dụng máng ăn, máng uống bằng xây gạch và bê tông, máng uống phải để hoặc xây ở ngoài sân chơi tránh ướt chuồng nuôi.

2.Thức ăn

2.1. Loại thức ăn và chất lượng thức ăn

Thức ăn đóng vai trò quan trọng để có sản phẩm an toàn. Cho nên thức ăn sử dụng cho ngan cũng phải xuất phát từ các cơ sở sản xuất thức ăn đảm bảo công tác vệ sinh. Tăng cường sử dụng nguồn thức ăn địa phương như vậy mới có điều kiện hạ giá thành sản phẩm, nhưng nguồn thức ăn này cũng phải đảm bảo vệ sinh. Không sử dụng thức ăn mà có chất kích thích tăng trọng, có các hoá chất cấm có trong thức ăn.

Đối với ngan có thể sử dụng rất nhiều loại nguyên liệu, sản phẩm phụ nông nghiệp cho ngan ăn hoặc sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng viên nhưng nuôi ngan nên tận dụng các loại thức ăn mà địa phương sẵn có thì giá thành hạ.

Những nguyên liệu thức ăn dùng được cho ngan: Gạo, thóc, ngô, đỗ tương, tấm, cám, cá tép, cua, ốc, don, dắt….. bã bia bã rượu, khoai rau bèo… nếu thức ăn được nấu chín thì khả năng tiêu hoá và hấp thụ tôt hơn và có hiệu quả kinh tế hơn.

Khi sử dụng các loại thức ăn phải lưu ý không  được mốc và ôi chua. Khi sử dụng bất kỳ loại thức ăn nào đều phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng/1kg phù hợp cho từng giống ngan và từng giai đoạn ngan.

Tiêu chuẩn thức ăn cho ngan sinh sản:

Giai đoạn nuôi

Protein (%)

Năng lượng (kcal)

Giai đoạn ngan con

20 - 21

2850 - 2900

Giai đoạn nuôi hậu bị

13,5 - 14,5

2850 - 2900

Giai đoạn dựng đẻ và đẻ

17 - 17,5

2650 - 2700

2.2. Lượng thức ăn:

Đối với ngan nuôi giống phải thực hiện chế độ ăn định lượng để khống chế khối lượng cơ thể theo tiêu chuẩn thì khả năng sinh sản về sau năng suất sẽ cao.

Ngày tuổi

Gam/con/tuần

Ngày tuổi

Gam/con/ngày

1

4

18

72

2

8

19

76

3

12

20

80

4

16

21

84

5

20

22

88

6

24

23

92

7

28

24

96

8

32

25

100

9

36

26

104

10

40

27

108

11

44

28

108

12

48

29 - 56

112

13

52

57 - 70

120

14

56

71 - 84

130

15

60

85 - 98

140

16

64

99 - 112

150

17

68

113 - 126

160

127 - 133

170

Ghi chú: (có thể tập dần cho ngan ăn thóc luộc từ tuần tuổi thứ 3)

Có thể thúc đẻ bằng TĂ hỗn hợp hoặc mồi tươi với thóc, khi ngan đẻ trứng đầu tiên tăng TĂ lên 15% khi đàn đẻ 5% tăng thêm sao cho 7 ngày ngan ăn tự do ở ban ngày.

 Mô hình nuôi ngan địa phương cho hiệu quả cao

3. Chăm sóc và nuôi dưỡng

Mặc dù người chăn nuôi nuôi theo phương thức nào hoặc cách nào thì người chăn nuôi cần phải theo đúng quy trình kỹ thuật là một trong những tác động mạnh đến sức khoẻ vật nuôi, giúp vật nuôi khoẻ, sức đề kháng tốt hơn. Phải tuân thủ quy trình chăm sóc nuôi dưỡng nghiêm ngặt cho từng giai đoạn nuôi ngan đối với ngan đẻ có 3 giai đoạn: giai đoạn ngan con, giai đoạn hậu bị và giai đoạn sinh sản, trước giai đoạn sinh sản có 2 tuần dựng đẻ. Thực hiện quy trình cùng vào cùng ra có thể cùng vào cùng ra đối với một trại hoặc cùng vào cùng ra theo dãy chuồng nuôi hoặc ô chuồng. Trong một dãy, ô chuồng nuôi chỉ nên nuôi một loại ngan - ngan và cùng lứa tuổi nếu có lệch nhau thì không nên chênh lệch quá 1 tuần tuổi.

3.1. Giai đoạn nuôi ngan con (từ 1 - 56 ngày tuổi)

Giai đoạn 1: Từ 0 - 3 tuần tuổi.

Giai đoạn 2: Từ 4 - 8 tuần tuổi.

* Nhiệt độ chuồng nuôi:

Trước khi đưa ngan xuống chuồng nuôi thì chuồng nuôi phải được sưởi ấm, chuồng nuôi phải đảm bảo không có gió lùa.

Khi ngan ở trong máy ấp nở với điều kiện nhiệt độ trên 37oC khi chuyển xuống chuồng nuôi để đảm bảo cho ngan con khoẻ mạnh nhiệt độ chuồng nuôi khi ngan 1 - 3 ngày tuổi phải đạt 28 - 32oC từ ngày tuổi thứ 4 trở đi mỗi ngày giảm 1oC cho tới khi đạt 25 oC.

* Ẩm độ không khí:

Ẩm độ thích hợp cho ngan con là 60 - 70 %, song ở nước ta ẩm độ không khí  rất cao có khi lên tới 100%. Ẩm độ cao nguy hiểm cho ngan con, nền chuồng ướt làm cho ngan con cảm nhiễm bệnh dễ dàng, cho nên ẩm độ cao thời tiết nóng như những ngày trời nồm cần phải dãn ngan cho mật độ thưa ra đồng thời cần phải đảo chất độn chuồng và cho thêm chất độn chuồng khô hàng ngày để giữ cho ngan ấm chân và sạch lông.

* Chế độ chiếu sáng cho ngan:

Từ tuần thứ 1 đến tuần thứ 2 thắp sáng cả ngày đêm cho ngan, sau đó thời gian thắp sáng là 16 - 18 giờ/ngày, ban ngày sử dụng ánh sáng tự nhiên. Cường độ ánh sáng cho ngan trong giai đoạn này là:

Từ 1 - 10 ngày tuổi 3 w/m2.

Từ 11 - 28 ngày tuổi 1,5w/m. Trong thời gian này ban ngày sử dụng ánh sáng tự nhiên.

          Ở những nơi không có điện cần thắp sáng bằng đèn dầu đảm bảo đủ ánh sáng để ngan, ngan đi lại ăn, uống một cách bình thường, chống xô đàn và đè lên nhau gây tỷ lệ chết cao.

* Cung cấp nước uống:

          Ngan là thuỷ cầm cần rất nhiều nước uống, đảm bảo nước phải trong sạch và thường xuyên. Khi nuôi ngan ngan theo phương thức nuôi khô không có nước bơi lội chỉ dùng nước cho ngan uống nhưng bản tính của ngan vẫn sử dụng nước uống để vẩy lên tắm khô cho nên lượng nước phải tăng gấp đôi so với nhu cầu nước uống và nước trong máng uống sẽ nhanh bẩn do vậy phải cấp đủ và thay nước thường xuyên để đảm bảo nước uống luôn sạch sẽ. Lưu ý ngan, ngan  ở tuần tuổi thứ nhất không cho uống nước lạnh dưới 10oC, tuần tuổi thứ 2 và 3 không cho uống nước lạnh dưới 6oC và cũng cần hạn chế ngan uống nước trên 25oC. Nhu cầu nước uống trung bình:

                   1 - 7 ngày tuổi      : 120mml/con/ngày.

                    8 - 14 ngày tuổi    : 250mml/con/ngày .         

                    15 - 28 ngày tuổi  : 350mml/con/ngày .

Nước uống giai đoạn sau (5 - 8 tuần) nhu cầu cần 0,4 - 0,6 lít/con/ngày, luôn phải có nước sạch cho ngan uống. ở giai đoạn này máng ăn vẫn để trong chuồng nuôi còn máng uống bố trí ở sân chơi để tránh bị ướt chuồng, máng uống nước không để quá xa nơi ngan ăn.

* Chăm sóc và nuôi dưỡng:

Ngan sau khi nở khô lông cho ăn uống càng sớm càng tốt nếu cho ăn uống muộn thì ngan ngan dễ bị khô chân dẫn đến cứng hàm làm tỷ lệ hao hụt tuần đầu rất cao hoặc ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của ngan ngan.

          Giai đoạn ngan từ 1 - 21 ngày tuổi: Dùng thức ăn hỗn hợp dạng viên hoặc  gạo nấu thành cơm và trộn với thức ăn giàu đạm cho ngan ăn, sau 2 tuần có thể cho ngan ăn thóc luộc, tấm, ngô, gạo lật, thóc luộc, thóc, đỗ tương, khô đỗ tương, cám gạo, bột cá nhạt, bột máu, bột đầu tôm, prêmik VTM, khoáng, hoặc dùng cơm, tấm, ngô, gạo lật, thóc luộc, thóc sống trộn với thức ăn đạm tươi như: Tôm, tép, cua, ốc, giun đất, don, dắt, rạm, bọ đỏ... và các loại côn trùng khác. ở tất cả các giai đoạn nuôi ngan thì sử dụng thức ăn dưới dạng viên hoặc hạt nếu sử dụng thức ăn dạng bột thì lãng phí nhiều. Đối với ngan nuôi khi cho ăn trên nền hoặc ni lông phải rắc thức ăn đều và rộng để tất cả ngan được ăn cùng một lúc.

Không nên sử dụng khô dầu lạc trong khẩu phần ăn của ngan vì dễ bị nhiễm Aflatoxin, riêng ngô khi sử dụng cho ngan cần phải kiểm tra kỹ vì ngô rất hay bị mốc. Nên sử dụng các loại thức ăn sẵn có ở địa phương để hỗn hợp cho ngan ăn thì có giá thành hạ, kể cả các loại phụ phẩm như cám, bã bia, bã rượu, bã đậu… đều sử dụng cho ngan, ngan ăn được nhưng phải đảm bảo yêu cầu không ôi chua và không mốc. Thức ăn có thể nấu chín để tăng khả năng tiêu hoá thức ăn của ngan.

Trước khi cho ngan ăn phải dọn sạch máng, quét bỏ những thức ăn thừa, hôi, thối và mốc, cho ngan ăn làm nhiều lần trong ngày để tránh rơi vãi và ôi chua, tách những con nhỏ cho ăn riêng để ngan được đều.

Đối với ngan giống nuôi để sinh sản thì phải cho ăn theo định lượng. Nuôi giống cho ăn theo bữa: 4 tuần đầu cho ăn 4 bữa/ngày từ 5 - 8 tuần cho ăn 2 bữa/ngày, sau đó chỉ cho ăn một lần hết lượng thức ăn trong ngày để mọi con đều có thể được ăn lượng thức ăn theo tiêu chuẩn như vậy độ đồng đều của đàn sẽ cao hơn.

Trong quá trình nuôi dưỡng ngan giống để sinh sản phải định kỳ kiểm tra khối lượng cơ thể để khối lượng cơ thể phù hợp với tiêu chuẩn của giống, nếu khối lượng cơ thể chưa phù hợp thì đòi hỏi phải điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

Khối lượng cơ thể đến 4 tuần tuổi phù hợp là : trung bình  0,8 - 0,9 kg/con

Hàng ngày phải bổ sung thêm chất độn chuồng cho ngan bằng trấu; phoi bào; cỏ khô; rơm rạ. Theo dõi sức khoẻ của đàn ngan, cần phải loại ra khỏi đàn những con ốm yếu và kém  ăn để có biện pháp xử lý kịp thời.

Ngan nuôi giống để sinh sản nuôi hết 8 tuần tuổi tiến hành chọn để chuyển vào giai đoạn nuôi hậu bị khi chọn căn cứ vào một số yếu tố sau:

          + Ngoại hình: màu lông đặc trưng của giống, nhanh nhẹn, ngoại hình cân đối, chân thẳng, không vẹo đuôi, không gù lưng, mình thon, đầu nhỏ, cổ dài, thân hình tạo với mặt đất một góc càng lớn càng tốt.

          + Khối lượng cơ thể:  1,5 - 1,7 kg/con

Đối với những con có khối lượng cơ thể cao hơn hoặc thấp hơn nếu nuôi thì sau này đều cho năng suất không cao.

Tỷ lệ để đực mái cho các đàn giống như sau(tính cả đực dự phòng): 1/5 - 1/6.

Tỷ lệ ghép đực mái còn phụ thuộc vào độ lớn của đàn nếu nuôi đàn số lượng lớn thì tỷ lệ ghép đực mái cao, còn nếu nuôi đàn với số lượng ít thì tỷ lệ ghép đực mái thấp.

3.2. Lịch phòng bệnh và tiêm phòng

Ngày  tuổi

Vaccin , thuốc  kháng  sinh  và  cách  dùng

 

1-3

Phòng  chống  nhiễm  trùng  rốn , các  loại  bệnh  đường ruột  và  chống  các  stress  bằng  các  loại  kháng sinh như Ampi-Coly, Tetracycline , Streptomycine,Neox, Neotesol . . . Bổ  sung  vitamin  như :  B1 , Bcomlex , ADE  hay  dầu cá .                       

 

7 - 10

- Phòng Vắc xin viêm gan siêu vi trùng : uống hoặc nhỏ hoặc tiêm

- Tiêm  phòng  vaccin  dịch  tả  ngan  lần  1  tiêm  dưới  da (cổ hay  cánh)

 

15-18

- Phòng vaccin H5N1 lần 1

- Bổ  sung  vitamin  và  kháng  sinh  phòng  bệnh  và  chống stress  sau  tiêm  phòng

 

28-46

- Phòng  bệnh  Ecoli , tụ  huyết  trùng , phó  thương  hàn  ngan bằng các loại  kháng  sinh , Sulphamide  và  bổ  sung  vitamin .

- Có  thể  tiêm  phòng  vaccin  tụ  huyết  trùng  cho  ngan .

- Phòng vaccin H5N1 lần 2

 

56-60

- Tiêm  phòng  vaccin  dịch  tả  ngan  lần  2 .

- Tiêm phòng Vắc xin viêm gan siêu vi trùng lần 2

 

70 - 120

- Phòng  bệnh  bằng  kháng  sinh ,  bổ  sung  vitamin theo  định  kỳ  1 - 2  tháng/lần liều  trình  3 - 5  ngày

135 - 185

- Tiêm  vaccin  dịch  tả  lần  3

- Tiêm phòng Vắc xin viêm gan siêu vi trùng lần 3

- Bổ  sung  vitamin  và  kháng  sinh  phòng  bệnh định  kỳ  1 - 2  tháng/lần liều  trình  3 - 5  ngày  trong thời  kỳ  đẻ  trứng

180 - 200

Phòng vaccin H5N1 lần 3

Sau  khi  đẻ  4 - 6  tháng

- Ngan đẻ được 4 - 5 tháng tiêm phòng vaccin H5N1 lần 4

- Ngan đẻ được 5 - 6 tháng tiêm vaccin  dịch  tả và viêm gan lần 4

- Phòng bệnh bằng kháng sinh định kỳ  1-2 tháng / lần

4. Vệ sinh  chuồng  trại và thiết bị chăn nuôi

Chuồng trại đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, duy trì mật  độ đúng yêu cầu và đủ diện tích sân chơi.  

- Phải thực hiện nghiêm túc đầy đủ luật lệ về công tác phòng trừ dịch bệnh, trước cửa chuồng nuôi phải có hố khử trùng. Trong chuồng nuôi chỉ nên có 1 loại ngan - ngan và nếu có 2 đàn thì chỉ nên cách nhau không quá 7 ngày tuổi.

- Chuồng nuôi phải có chu kỳ luân chuyển hàng năm để có thời gian xử lý và trống chuồng. Ngan nhập về phải nuôi cách ly từ 15 - 20 ngày và giữ đúng các nguyên tắc thu y quy định.

- Chuồng trại, trang thiết bị chăn nuôi phải được rửa để khô ráo xung quanh chuồng nuôi phải vệ sinh công nghiệp sau đó tiến hành vệ sinh tiêu độc định kỳ bằng một số thuốc sát trùng.

+ Vôi bột: rải vôi bột xung quanh và bên trong chuồng nuôi sau đó phải để  2 - 3 ngày rồi quét dọn lại lần nữa (Biện pháp này ít dùng vì dễ làm cho ngan hô hấp hít phải bụi vôi bột).      

+ Nước vôi: dùng nước vôi mới tôi quét nền chuồng, sân chơi và xung quanh tường phải để khô mới rải độn chuồng và đưa ngan vào .

+ Dùng Formol (1 - 3%): Phun toàn bộ nền và tường chuồng.

+ Dùng Crezil (3 - 5%) để phun

+  Xông hơi bằng hỗn hợp formol và thuốc tím liều lượng cứ 17,5 gam thuốc tím + 35 ml Formol cho 1 m3 chuồng nuôi, khi xông hơi đòi hỏi chuồng phải kín mới có tác dụng.

- Độn chuồng: Độn chuồng bằng phoi bào, trấu hoặc rơm rạ, cỏ khô cắt ngắn. Chất độn chuồng trước khi sử dụng phải được phơi khô, tiêu độc bằng các chất sát trùng kể trên, ủ một ngày, sau đó rải đều cho bay hơi hết mới đưa vào chuồng.

Máng ăn, máng  uống,  lò  sưởi, cót  quây  ngan...., phải  được  rửa  sạch  sau  đó  sát  trùng  bằng  một  trong  các  loại  thuốc  sát  trùng  kể  trên  rồi  chuẩn  bị  sẵn  trong  chuồng  trước  khi  nhập  ngan - ngan  về.

5. Giai đoạn nuôi ngan hậu bị:

Giai đoạn hậu bị là giai đoạn 9 tuần tuổi đến khi bắt đầu đẻ: 9 - 19 tuần

Ngan hậu bị chuẩn bị đưa vào giai đoạn đẻ

Trong giai đoạn này ngan phát triển đưới điều kiện khí hậu tự nhiên không đòi hỏi ngặt ngèo nhưng phải lưu ý trong thời gian này khi ngan thay lông rất mẫn cảm với nhiệt độ thấp và mưa. Ngan  nuôi thức ăn hạn chế, cả về số lượng và chất lượng, chăm sóc nuôi dưỡng làm sao đạt khối lượng ở mức yêu cầu của giống để đảm bảo có năng suất đẻ trứng cao trong giai đoạn sinh sản.

* Ánh sáng và chế độ chiếu sáng:

Giai đoạn từ 9 tuần đến trước khi ngan đẻ 5 tuần (tuần thứ 16) sử dụng ánh sáng tự nhiên. Sau đó tăng dần thời gian chiếu sáng cho ngan như sau:

Trước khi đẻ 4 - 5 tuần đảm bảo thời gian chiếu sáng 12 giờ/ngày.

Sau đó mỗi tuần tăng 1 giờ cho tới khi ngan vào đẻ đạt mức thời gian chiếu sáng 16 - 18 giờ/ngày.

* Cung cấp nước:

          Ngan hậu bị cần nước để uống nếu nuôi nhốt trên khô hoặc nuôi khô trên vườn thì cần phải cung cấp nước uống cho đủ, thường xuyên, sạch sẽ. Nhu cầu nước uống cho ngan mỗi ngày cho mỗi con cần từ 0,5 - 0,6 lít/con.

* Chăm sóc nuôi dưỡng:

Giai đoạn hậu bị nuôi cho ngan ăn hạn chế cả về số lượng và chất lượng thức ăn, cho nên lượng thức ăn hàng ngày chỉ đổ 1 lần hết lượng thức ăn đó, cho ăn sao cho tất cả ngan trong đàn đều được ăn giống nhau. Độ đồng đều càng cao về khối lượng ngan trong đàn thì sau này năng suất sinh sản càng cao. Nếu cho ăn thêm rau xanh thì cho ăn rau xanh sau khi cho ăn thức ăn tinh.

Trong giai đoạn này để đảm bảo cho ngan có độ đồng đều cao về khối lượng thì định kỳ kiểm tra khối lượng, cân để điều chỉnh thức ăn sao cho ngan có khối lượng phù hợp với chuẩn của giống, những con quá to hoặc quá nhỏ có thể nhốt riêng và cho ăn riêng.

Khối lượng ngan trong giai đoạn hậu bị chuẩn cho từng giống là:

Tuần tuổi

Khối lượng (kg/con)

10

1,7 - 1,9

12

2,0 - 2,2

14

2,2 - 2,3

16

2,3 - 2,4

18

2,4 - 2,5

Vào đẻ

2,5 - 2,7

Trước khi kết thúc giai đoạn ngan hậu bị 2 tuần tiến hành chọn lọc thông qua ngoại hình, và tiêu chuần khối lượng chọn tương tự giai đoạn kết thúc 8 tuần tuổi, chỉ đưa những con đạt tiêu chuẩn giống vào đàn sinh sản.

Khi chọn để lại tỷ lệ đực/mái phụ thuộc vào điều kiện nuôi:

Nuôi quần thể nhỏ để tỷ lệ đực mái là 1/5 - 1/6

Nuôi quần thể lớn để tỷ lệ đực mái là 1/6 - 1/7

Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống cho ngan ngan và kiểm tra sức khoẻ đàn giống hàng ngày ngay từ sáng, có sự thay đổi nào về  sức khoẻ của đàn ngan, ngan phải báo ngay cho thú y để xử lý.

Độn chuồng phải khô ráo, sạch sẽ thường xuyên phải rắc thêm để ngan được sạch và độn chuồng không được mốc.

Trong giai đoạn nuôi ngan con và hậu bị còn phụ thuộc vào khối lượng của chúng nếu khối lượng cao hơn hoặc thấp hơn biểu đồ chuẩn thì phải điều chỉnh lượng thức ăn  tăng hoặc giảm 5 gam/con/ngày.

 6.Giai đoạn ngan sinh sản:

* Điều kiện khí hậu:

           Tạo điều kiện khí hậu thích hợp cho ngan đẻ. Nhiệt độ thích hợp nhất đối với ngan đẻ là 16 - 24 oC và ẩm độ là 60 - 70%. Chuồng nuôi và ổ đẻ phải luôn khô ráo và sạch sẽ.

* Ánh sáng và chế độ chiếu sáng:

          Trong suốt giai đoạn ngan đẻ cần thời gian chiếu sáng mỗi ngày 16 - 18 giờ. Thời gian chiếu sáng không đảm bảo sẽ làm giảm năng suất trứng. Cường độ  chiếu sáng là 5 w/m2.

* Cung cấp nước:

Nhu cầu nước uống cần cho ngan giai đoạn sinh sản từ 0,6 - 0,7 lít/con/ngày. Ngan nuôi có mương bơi hoặc nuôi trên khô có máng uống đều phải sử dụng nước sạch và đủ nước. Nếu không đủ nước hoặc với một lý do nào đó ngan không uống nước sẽ dẫn đến không ăn và cuối cùng là không đẻ. Khi để máng uống ở ngoài chuồng nuôi mùa hè phải che máng uống, tránh để ngan, ngan uống nước nóng, thường xuyên thay nước uống cho ngan.

* Chăm sóc nuôi dưỡng

Chuồng phải sạch sẽ và khô ráo độn chuồng phải dày 20 - 30 cm, hàng ngày cho thêm độn chuồng đặc biệt là vị trí ổ đẻ.

Chuyển từ thức ăn ngan hậu bị sang thức ăn ngan đẻ được tiến hành 2 tuần trước khi ngan, ngan đẻ và tăng lượng thức ăn lên 10%, khi ngan, ngan đẻ quả trứng đầu tiên tăng lượng thức ăn lên 15%. Khi đàn đẻ 5% tăng dần lượng thức ăn sao cho 7 ngày sau trở đi ngan ăn tự do theo nhu cầu ở ban ngày, phải đổ thức ăn làm nhiều lần trong ngày (2 - 3 lần) để thức ăn không bị tồn đọng ở máng ăn. Thức ăn phải đảm bảo chất lượng, máng ăn phải để trong chuồng nuôi tránh mưa và sương làm mốc thức ăn, nếu nuôi nhốt trên vườn cây phải để máng ăn ở vị trí cố định và phải có che mưa nắng.

Hạn chế tác động mạnh về ánh sáng, âm thanh và những tác động bất thường khác đến đàn sinh sản để tránh hiện tượng đẻ non và đẻ trứng hai lòng.

Ngan nuôi trên khô phải lưu ý vệ sinh sân chơi luôn sạch sẽ để tránh được khi ngan giao phối xong thì gai giao cấu bị chạm xuống nền chuồng và sân chơi bị nhiễm trùng nhiễm bẩm dẫn đến hao hụt con đực nhiều.

* Thu nhặt trứng:

Chất độn ổ đẻ phải được bổ sung thường xuyên vào các vị trí của ổ đẻ, suốt giai đoạn ngan đẻ chỉ cần bổ sung không cần thay độn chuồng, ngan đẻ tập trung vào thời gian 3 - 5 giờ hàng ngày vì vậy trứng được thu nhặt vào buổi sáng từ 6 - 7giờ. Sau khi nhặt trứng nếu trứng bẩn phải rửa bằng thuốc sát trùng hoặc xông sát trùng sau đó trứng để ấp được đưa vào bảo quản. Nếu không có kho lạnh thì bảo quản bằng than hoa.

* Kiểm tra sức khoẻ đàn ngan:

Hàng ngày buổi sáng kiểm tra tình hình đàn ngan, ngan nếu có sự thay đổi khác thường báo cho thú y xử lý.

Trong giai đoạn ngan sinh sản cần loại những con ngan quay lông (rụng lông ống ở cánh và đuôi) vì những con đó năng suất trứng rất thấp, khi ở thời điểm thay lông thì không sinh sản. Đồng thời loại những con có màu lông, màu mỏ và màu chân không nhạt đi sau một thời gian đàn đã đẻ vì những con đó đẻ cũng rất kém./.

Nguồn tin: Trung tâm khuyến nông Quảng Nam
[Trở về]
Các tin mới hơn:
KỸ THUẬT Ủ CHUA THỨC ĂN XANH
CĐCS Trung tâm Khuyến nông Quảng Nam kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ 08/3
Lợi ích từ thảm thực vật trong vườn cây ăn trái
Đoàn Thanh niên Sở Nông nghiệp & PTNT Quảng Nam: Thả giống tái tạo nguồn lợi thủy sản năm 2021
Ngày hội Khởi nghiệp sáng tạo Quảng Nam lần thứ II - TechFest Quang Nam 2021
Lợi ích kép từ mô hình trồng chuối xen vào vườn cây cao su
Hội nghị giao ban hoạt động Công đoàn viên chức tỉnh quý I năm 2021
Huyện Đông Giang: Mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng
Kỹ thuật chăm sóc cây ba kích trong thời kỳ kiến thiết cơ bản
Các tin cũ hơn:
Qũy Hỗ trợ ngư dân Quảng Nam: Cùng ngư dân vươn khơi, bám biển
Nhật ký Hoàng Sa: Lao về “tọa độ nóng”
Sản xuất thành công cua giống bằng thức ăn công nghiệp
Quy hoạch xuất khẩu hồ tiêu phấn đấu mức kim ngạch 1,2 tỷ USD
Nông sản Việt tìm thị trường ở châu Phi
Các bài thuốc chữa Áp huyết thấp
Sự kiện: Bí quyết sống khỏe
Tình hình và triển vọng sản lượng và xuất khẩu cao su Việt Nam
Một số nội dung cơ bản của Nghị định 67/2014/NĐ-CP
Phát hiện gấu ngựa ở Quảng Nam
    
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10  
    

Liên kết Website